Báo NLĐ: Bụng đói cật rét

Share:

Thành ngữ này thường được dùng để chỉ tình thế, cảnh ngộ đói rét cụ thể, nhất thời nào đó, chứ không phải chỉ nói hoàn cảnh 'nghèo khổ, thiếu thốn' (về kinh tế) như cách giải thích của nhiều nhà biên soạn từ điển

Bài viết này thuộc danh mục:✅ Sức khỏe - Y tế, được chúng tôi tổng hợp từ báo NLĐ, nguồn bài: http://nld.com.vn/van-nghe/bung-doi-cat-ret-20180901205652929.htm

“Bụng đói” thì khỏi phải bàn nhưng “cật rét” là chỗ nào bị rét? Vấn đề tưởng đơn giản nhưng vẫn tồn tại nhiều cách hiểu rất khác nhau, kể cả các bản trái nghĩa “no cơm, ấm cật”, “ấm cật, no lòng”. Xin tạm chia thành ba cách hiểu về “cật”:

1 - “Cật” là phần lưng, thắt lưng (được ghi nhận nhiều nhất):

- “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” (Nhóm Vũ Dung): “Bụng đói cật rét (cật: phần lưng chỗ ngang bụng) Ngđ: Đã đói lại rét. Ngb: Nghèo khổ thiếu thốn”.

- Nhóm Vũ Dung tái khẳng định: “Được bụng no, còn lo cật ấm (cật: phần lưng ở chỗ ngang bụng). Phải lo toan có đủ ăn đủ mặc”.

- “Từ điển tiếng Việt” (Vietlex): “cật [cũ] phần lưng ở chỗ ngang bụng: (…) “Đói thì đầu gối biết bò, No cơm ấm cật còn lo lắng gì” (ca dao)”.

- “Việt Nam tự điển” (Hội Khai Trí Tiến Đức): “cật • Lưng <> No thân ấm cật (…) Văn-liệu: Đói trong không ai biết, rách ngoài cật nhiều kẻ hay (T-ng)”.

2 - “Cật” là quả thận. “Từ điển thành ngữ - tục ngữ ca dao Việt Nam” (Việt Chương): “Bụng đói cật rét: Cật là cơ quan có tác động làm cho bộ phận sinh lý hoạt động. Do đó, khi bụng đói thì người ta chỉ nghĩ đến cái ăn, chứ không còn ham muốn sinh thú gì nữa. Nghĩa bóng: nghèo khổ thiếu thốn”.

3 - “Cật” là hai vai người ta. “1575 thành ngữ tục ngữ cần bàn thêm” (Lê Gia) giảng: “Đây là chữ “cật” có nghĩa ngang bằng. Ta gọi cái vai, phần ngang bằng trên thân thể, là “cái cật” như “ấm cật no lòng” và “chung lưng đấu cật”. “Cật rét” là cái vai bị rét. Khi ta mặc quần áo hay đắp chăn mền thì phải mặc, phải đắp trùm che hai vai mới đủ ấm, nếu không thì dù mặc gì, đắp gì nữa cũng vẫn cảm thấy còn lạnh. Khi tắm nếu ta xối nước lạnh vào vai trước tiên thì ta sẽ cảm thấy lạnh…”.

Chúng tôi cho rằng các nhà biên soạn từ điển đều chưa hiểu đúng nghĩa chữ “cật” trong “bụng đói cật rét”, cũng như “cật” trong “no cơm, ấm cật”. Theo đó, “cật” ở đây có nghĩa là phần da thịt bên ngoài (không kể là lưng, hay vai), đối với “bụng” (lục phủ ngũ tạng) bên trong. Đây chính là nghĩa của “cật” trong “lạt cật” (lạt được chẻ ra từ phần ngoài cây tre, nứa), “lạt bụng” (được chẻ ra từ phần vỏ bên trong cây tre nứa).

Ăn giúp cho cái bụng được no, mặc giúp cho thân mình được ấm. Dù cật có thiếu áo mặc nhưng bụng được ăn no thì sẽ đỡ rét hơn. Ngược lại, cật đã rét mà “bụng đói” lại còn đói thì đã rét lại càng thêm rét, đã đói lại càng thêm đói. “Bụng đói, cật rét”, hay “no cơm, ấm cật”, chính là nói đến nhu cầu ăn và mặc. Ví dụ:

-“Đói trong không ai biết, rách ngoài cật nhiều kẻ hay”. “Rách ngoài cật” ở đây không thể hiểu là “rách” ở phần “lưng chỗ ngang bụng” hay ở “hai vai”, mà là rách quần áo che thân. Theo đây, có thể loại bỏ luôn cách giải thích “cật” là quả thận, “cơ quan có tác động làm cho bộ phận sinh lý hoạt động” của Việt Chương.

-“Được bụng no còn lo ấm cật”. “Lo ấm cật” ở đây là lo cái mặc, cái che ngoài thịt da (ngoài cật) con người nói chung, chứ không riêng gì phần “lưng” hoặc “phần lưng chỗ ngang bụng”, hay lo cho “quả thận” được ấm.

-“Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi đeo bao tấu bầu ngòi.” (Nguyễn Đình Chiểu). “Ngoài cật”, ở đây cũng có nghĩa là thân mình bên ngoài chỉ có “một manh áo vải”, không được trang bị giáp trụ, vũ khí gì đáng kể.

Như vậy, “cật” trong “bụng đói cật rét” được hiểu là da thịt, thân mình bên ngoài. “Bụng đói, cật rét” có nghĩa cùng lúc người ta phải chịu đựng cả đói và rét; đã đói lại rét; bên trong thì đói, bên ngoài thì rét. Thế nên, thành ngữ Hán cũng có câu đồng nghĩa “Cơ hàn giao bách” (飢 寒 交 迫), cùng lúc phải chịu đựng cả cái đói và cái rét rất khốn khổ.

Cũng cần nói thêm rằng, “bụng đói cật rét” thường được dùng để chỉ tình thế, cảnh ngộ đói rét cụ thể, nhất thời nào đó, chứ không phải chỉ nói hoàn cảnh “nghèo khổ, thiếu thốn” (về kinh tế) nói chung, như cách giải thích của nhiều nhà biên soạn từ điển.

HOÀNG TUẤN CÔNG

Tìm kiếm:✨

  • Thành ngữ, Vũ Dung, Không ai biết, Tục ngữ, Hội Khai Trí Tiến Đức, Cảnh ngộ, Hoàng Tuấn Công, Sinh lý, RA TỪ, Hai Vai, Giải thích, Ca dao, Ham muốn, Việt nam, Tì vị, Miệng ăn

Không có nhận xét nào